• Baner 1
  • Baner 2
  • Baner 3
  • Baner 4

Video

Những công nghệ nuôi tôm hiệu quả

Những công nghệ nuôi tôm hiệu quả
Sản lượng tôm nuôi năm 2014 tăng mạnh chủ yếu do nhiều địa phương chuyển đổi phần lớn diện tích nuôi tôm sú sang tôm thẻ chân trắng (TTCT), đồng thời tăng diện tích nuôi thâm canh, bán thâm canh với nhiều quy trình công nghệ mới, năng suất và hiệu quả cao.

Nuôi tôm theo công nghệ Biofloc

Hệ thống nuôi trồng thủy sản theo hướng Biofloc được phát triển trên nguyên lý duy trì tỷ lệ cacbon/nitơ hợp lý để vi sinh vật hữu ích phát triển; chúng thúc đẩy quá trình phân hủy dị dưỡng các hợp chất nitơ trong ao nên không cần thay nước trong suốt quá trình nuôi. Hệ thống nuôi trồng thủy sản theo công nghệ Biofloc có những ưu điểm vượt trội. Thứ nhất, Ammonia tự do trong nước được chuyển hóa thành protein trong sinh khối vi sinh vật dị dưỡng, tập hợp thành Biofloc lơ lửng trong nước. Thứ hai, động vật thủy sản nuôi sử dụng sinh khối Biofloc làm thức ăn, do vậy chuyển hóa protein trong thức ăn lên đến 45 - 50%. Thứ ba, nâng cao mức độ an toàn sinh học, giảm rủi ro lây nhiễm bệnh do không hoặc ít phải thay nước.

14616148384_1c7aba248d_o.jpg

Trong nuôi TTCT có thể bị các tác động do các yếu tố tiêu cực như ô nhiễm môi trường, tảo bùng phát do chất thải giàu chất dinh dưỡng ni tơ và phốt pho từ thức ăn dư thừa, chất thải từ tôm vào môi trường ao nuôi. Công nghệ Biofloc tạo điều kiện thuận lợi để vi khuẩn dị dưỡng sử dụng các chất thải này chuyển hóa thành sinh khối vi khuẩn (các hạt floc) và tôm có thể dùng làm thức ăn. Mục tiêu của công nghệ Biofloc nuôi thâm canh TTCT là giảm ô nhiễm môi trường và giảm hệ số chuyển hóa thức ăn, giảm rủi ro nhiễm bệnh, tăng năng suất nuôi. Tuy nhiên, quản lý hệ thống Biofloc trong nuôi tôm thâm canh đòi hỏi kỹ thuật khá phức tạp để đảm bảo cho hệ thống vận hành tốt, năng suất cao.

Năm 2014, nhiều công ty sản xuất giống và nuôi thương phẩm TTCT ở Ninh Thuận, Bình Thuận đã ứng dụng công nghệ này vào sản xuất giống và nuôi thương phẩm; điển hình có Công ty TNHH Thủy sản Hải Dương (xã Phước Thể, huyện Tuy Phong) mỗi năm sản xuất, nuôi thương phẩm 3 - 4 vụ, năng suất 20 tấn/ha/vụ. 

Nuôi tôm siêu thâm canh trong nhà kính

Không ít vùng nuôi tôm bị thiệt hại nặng, do diện tích dịch bệnh trên tôm lây lan theo diện rộng. Nguyên nhân gây bệnh do nhiều yếu tố như chất lượng con giống, môi trường (liên quan cơ sở hạ tầng). Hệ thống nuôi tôm được bố trí hoàn toàn trong nhà kính là phương pháp nuôi hiện đại, hoàn toàn khép kín; vì vậy có thể hạn chế tác động xấu của môi trường, dễ kiểm soát, chăm sóc quản lý thuận tiện và cho năng suất cao.

Nuôi tôm trong nhà kính đòi hỏi phải bố trí hệ thống máy quạt nước và ôxy đáy đủ công suất, hoạt động 24/24 giờ. Để quản lý tốt môi trường nuôi định kỳ xiphong đáy 3 - 4 ngày/lần, loại bỏ hết chất thải bùn đáy kết hợp sử dụng men vi sinh 5 ngày/lần. Đặc biệt nuôi tôm theo công nghệ này đòi hỏi lượng nước bổ sung rất ít (1 - 2%/ngày), nguồn nước có thể được tận dụng cho vụ nuôi sau.

14431609878_d59bb8b0c8_o.jpg

Công nghệ nuôi tôm trong nhà kính được áp dụng phổ biến tại các nước tiên tiến. Ở Việt Nam, Công ty TNHH một thành viên Hải Nguyên (xã Vĩnh Trạch Đông, TP Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu) là đơn vị đầu tiên áp dụng mô hình này, hiệu quả rất cao. Với quy mô hiện đại và khép kín nên đáp ứng được nhu cầu nuôi với mật độ cao, trung bình 200 - 290 con/m2, tôm sau 100 - 105 ngày có thể thu hoạch, tôm đạt kích thước 30 - 33 con/kg, năng suất khoảng 80 tấn/ha. Điển hình, có những ao sau thu hoạch đạt 87 - 90 tấn/ha. Do tôm nhanh lớn, không mất thời gian cải tạo ao nuôi, không bị ảnh hưởng mùa vụ nên có thể nuôi 3 - 4 vụ/năm, đạt tổng sản lượng trên 240 tấn/ha/năm. Tôm nuôi trong nhà kính có nhiều ưu điểm, như sức tăng trưởng nhanh, đặc biệt là tôm thương phẩm sau khi thu hoạch bóng, đẹp, nên dễ  tiêu thụ và giá bán cao. Với lợi nhuận lớn, hiện nay có nhiều công ty đã đầu tư nuôi TTCT trong nhà kính, như Công ty TNHH SX&TM Trúc Anh và Công ty TNHH Việt-Úc (Bạc Liêu). 

Nuôi tôm bằng chế phẩm sinh học

Nuôi tôm sử dụng chế phẩm sinh học là hình thức nuôi tôm thâm canh, sử dụng chế phẩm sinh học thay thế thuốc kháng sinh, hóa chất ổn định môi trường ao nuôi và kiểm soát dịch bệnh trên tôm nuôi. Công nghệ nuôi này được ứng dụng nhiều tại các vùng nuôi trên cả nước và đã được khẳng định có tác dụng phòng bệnh do vi khuẩn Vibrio gây nên, trong khi dùng kháng sinh không hiệu quả. Bổ sung một số chế phẩm sinh học trong nuôi tôm thâm canh đơn giản, dễ áp dụng, không đòi hỏi đầu tư lớn nhưng mang lại nhiều lợi ích: cải thiện môi trường ao nuôi, kích thích hệ vi sinh vật hữu ích phát triển, ức chế vi sinh vật gây bệnh, phân hủy các chất hữu cơ, chất thải, kìm hãm sự phát sinh khí độc NH3, H2S, tạo môi trường nuôi ổn định.

Trong nuôi tôm, môi trường ao nuôi thuận lợi cho vi khuẩn Vibrio và một số tác nhân gây bệnh khác phát triển và nhanh chóng bao vây quanh tôm nuôi. Vibrio phát triển, bám vào tảo, xâm nhập và phát triển nhanh trong hệ tiêu hóa của tôm nuôi. Sử dụng chế phẩm sinh học để loại trừ các mầm bệnh bằng quá trình cạnh tranh, ức chế sự phát triển của vi sinh vật gây bệnh trong môi trường ao nuôi bằng các vi sinh vật có lợi cho tôm. Hơn nữa, chế phẩm sinh học còn bổ sung một số vi sinh vật sống để cải tiến sự cân bằng vi sinh hệ trong đường ruột, giúp tôm sử dụng, chuyển hóa và hấp thụ thức ăn tốt hơn. Một số chế phẩm sinh học cung cấp các vitamin, khoáng chất kích thích, làm tăng sức đề kháng tự nhiên cho tôm nuôi.

Nuôi tôm vi sinh là phương pháp thay thế hữu hiệu trong việc phòng và trị bệnh trên tôm; đồng thời hướng đến một ngành nuôi tôm bền vững, thân thiện môi trường, mang đến sản phẩm chất lượng và an toàn cho người tiêu dùng. Áp dụng phương pháp này, đầu năm 2014, nhiều mô hình nuôi tôm đã thành công ngay trong vùng dịch ở một số tỉnh chịu thiệt hại nặng nề nhất như Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau. Điển hình có ông Phạm Thái Hòa (ấp Bửu 1, xã Long Điền Đông, huyện Đông Hải, tỉnh Cà Mau), trong khi các hộ nuôi trong vùng đều bị thiệt hại do dịch bệnh thì mô hình của ông Hòa với 2 ao nuôi, diện tích 4.400 m2, thu được 8,5 tấn, lãi 850 triệu đồng. 

Nuôi tôm sinh thái

Mô hình nuôi tôm sinh thái đã xuất hiện ở ĐBSCL, hay chính xác hơn là ở Cà Mau, hơn 10 năm nay. Mô hình đầu tiên được triển khai tại Lâm ngư trường 184 (Công ty Lâm nghiệp Ngọc Hiển) do Thụy Sĩ tài trợ. Tiếp theo đó, Công ty CP XNK Thủy sản Năm Căn làm đối tác bao tiêu sản phẩm tôm sinh thái cho gần 350 hộ dân trong khu vực rừng phòng hộ Kiến Vàng hơn 2.500 ha.

Mới đây nhất, dự án nuôi tôm sinh thái có chứng nhận quốc tế, được thực hiện bởi Tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV) và IUCN đã được triển khai cho hơn 780 hộ dân trong tổng số gần 2.000 hộ gia đình đang sống trong rừng ngập mặn Nhưng Miên.

1389146.jpg

Ở Việt Nam, nuôi tôm sinh thái diễn ra theo mô hình "tôm - rừng tách biệt" hoặc "tôm - rừng kết hợp". Nuôi tôm sinh thái kết hợp với rừng ngập mặn mang lại nhiều lợi ích rất lớn. Về mặt xã hội, nuôi tôm sinh thái đem lại sự hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi tích tập thể (cộng đồng); cuộc sống người dân ven biển được cải thiện… Về mặt môi trường, nuôi tôm sinh thái giúp duy trì đa dạng sinh học, phòng hộ đê, hạn chế xâm nhập mặn và thích ứng biến đổi khí hậu.

Tôm sinh thái được nuôi trong rừng sản xuất hoặc rừng phòng hộ. Tỷ lệ rừng trên 50%, mật độ thả tôm thấp, 2 - 3 con/m2. Diện tích ao (vuông) nuôi không giới hạn, 2 - 10 ha/vuông. Vuông nuôi được xây dựng có bờ bao vững chắc, đảm bảo giữ được nước và cần có thêm ao ương dưỡng tôm giống với diện tích 200 - 500 m2/ao, sâu 0,6 - 0,8 m.

Trước khi thả tôm ra ao, cần phải ương dưỡng tôm trong ao ương dưỡng tôm giống để hạn chế thất thoát tôm. Trong vuông nuôi có các trảng rừng xen kẽ các mương nuôi tôm. Trảng rừng ngập nước là nơi cư trú lý tưởng cho tôm; tán rừng che mát ổn định nhiệt độ và giảm thoái hóa đất.

Lợi thế của mô hình nuôi tôm sinh thái là giảm được chi phí đầu tư thức ăn và thuốc phòng trị bệnh, chế phẩm sinh học do tôm chủ yếu sử dụng thức ăn tự nhiên, phân hữu cơ hoặc vi sinh có kiểm soát. Đặc biệt, không dùng hóa chất, thuốc kháng sinh trong sản xuất; đảm bảo chất lượng tôm sạch. Ngoài ra, lá cây rơi xuống vừa là nguồn phân xanh rất tốt vừa là thức ăn cho tôm, thông qua phát triển thức ăn tự nhiên.

Bên cạnh những ưu điểm kể trên, mô hình cũng gặp một số trở ngại, như sự tích tụ quá mức của lá cây rừng làm ô nhiễm nước, thiếu ôxy, thiếu ánh sáng, về lâu dài giảm thức ăn tự nhiên… Trảng rừng sẽ bị bồi lắng và cao dần, cây rừng chậm lớn. 

Nuôi tôm trên cát

Nuôi tôm trên cát được coi là mô hình nuôi tôm hiệu quả, nhất là tại các tỉnh ven biển miền Trung. Từ khi TTCT được di nhập vào Việt Nam, nhiều vùng đất cát trắng đã thành vùng nuôi, farm nuôi chuyên canh TTCT. Các địa phương có nghề nuôi tôm trên cát (như Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên - Huế...) đã tận dụng tối đa diện tích đất hoang, góp phần xóa đói, giảm nghèo, tạo việc làm cho dân cư ven biển, giảm áp lực khai thác hải sản ven bờ. Nuôi tôm trên cát năng suất bình quân 8 - 10 tấn/ha. Điển hình có Công ty CP Đức Thắng, xã Bảo Ninh, Đồng Hới, Quảng Bình năng suất đạt trên 30 tấn/ha.

Ưu điểm của nuôi tôm trên cát: khả năng mở rộng diện tích lớn; cải tạo ao, thu hoạch dễ dàng, nhanh chóng, do ao được lót bạt hoặc bê tông hoàn toàn; đặc biệt, có thể thả nuôi với mật độ cao, chủ động được mùa vụ. Tuy nhiên, đòi hỏi chi phí ban đầu cao và phải có kỹ thuật nuôi tốt.

Không thể phủ nhận những lợi ích từ việc nuôi tôm trên cát, tuy nhiên, nghề nuôi này cũng phát sinh nhiều hệ lụy xấu đối với môi trường đất và nước, nhất là nuôi tôm tự phát.

Nuôi tôm trên cát ảnh hưởng tới rừng phòng hộ, làm giảm nguồn nước ngầm, gây ra sự nhiễm mặn. Lượng chất thải (bùn) và nước thải từ nuôi tôm trên cát ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái. Việc làm ao, đắp bờ và mở đường đi lại đều phải đào xới đất cát làm ảnh hưởng đến mức độ gắn kết, tạo điều kiện cho hiện tượng cát bay, bão cát. Vì vậy, việc phát triển nuôi tôm trên cát cần đi đôi với bảo vệ rừng phòng hộ. Nhiều nơi việc nuôi tôm trên cát còn phá vỡ cảnh quan du lịch tự nhiên.

Để nuôi tôm trên cát hiệu quả, các địa phương cần quy hoạch tốt vùng nuôi, áp dụng nhiều quy trình nuôi khác nhau.

>> Tại Việt Nam, ứng dụng công nghệ Biofloc đầu tiên trong nuôi thâm canh tôm thẻ chân trắng được Th.s Nguyễn Thị Thu Hiền (Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I) thực hiện từ năm 2011 - 2013, cho kết quả tốt.

Source: Nguyễn Minh - Tuyết Phương, Tạp chí Thủy sản VN

Kinh nghiệm khống chế vi khuẩn phát sáng trong ao nuôi tôm thẻ chân trắng

Kinh nghiệm khống chế vi khuẩn phát sáng trong ao nuôi tôm thẻ chân trắng

Anh Arjunvasan Ambigapathy nuôi tôm thẻ chân trắng tại Ấn Độ chia sẻ kinh nghiệm kiểm soát vi khuẩn phát sáng trong ao nuôi. Hiện tại đang vào mùa nắng nóng ở Ấn Độ, nhiệt độ ban ngày từ 37-40 độ C.

Anh Arjunvasan có một ao nuôi tôm thẻ 1 hecta tại Tamil Nadu ở vùng ven biển phía đông thuộc miền nam Ấn Độ. Hiện tại tôm nuôi của anh đạt trọng lượng 10 g/con sau 90 ngày nuôi. Cách nay vài tuần, anh phát hiện vi khuẩn phát sáng phát triển mạnh trong ao nuôi của mình. Trước đó, tôm của anh cũng bị bệnh phân trắng nhưng đã được điều trị khỏi.

Kinh nghiệm khống chế vi khuẩn phát sáng của anh như sau: anh sử dụng sản phẩm vi sinh (probiotic) PS-1 của công ty Grobest để kiểm soát vi khuẩn phát sáng bằng cách trộn chế phẩm vi sinh này với thức ăn tôm đã được nấu chính, cộng với cám gạo và nước ao nuôi tôm để lên men và ủ qua đêm, sau đó hỗn hợp này được pha loãng và tạt đều xuống ao. Với cách làm này anh cho biết đã kiểm soát được vi khuẩn phát sáng trong ao nuôi và kiểm soát cả các dòng vi khuẩn Vibrio có hại khác trong ao nuôi.  

Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org
Source: The Shrimp List (a mailing list for shrimp farmers).  Subject: Requesting Inputs to Eradicate Luminescent Bacteria.  June 23, 2014.  2. Email to Shrimp News International from Arjunvasan Ambigapathy.  Subject: What’s PS-1.  June 23, 2014. Shrimp News International.

Bệnh vi bào tử trùng trên tôm thẻ chân trắng

Bệnh vi bào tử trùng trên tôm thẻ chân trắng

Đăng lúc: Thứ năm - 13/03/2014 16:10 - Người đăng bài viết: admin
 
Kể từ khi Cục thủy sản (Department of Fisheries) – thuộc Bộ Nông Nghiệp Thái Lan (Ministry of Agriculture and Cooperatives) cho phép nhập khẩu tôm chân trắng để nuôi thương phẩm vào năm 2012, sản lượng tôm chân trắng nuôi thâm canh đã tăng trưởng dữ dội.
Bất chấp ảnh hưởng của bệnh tôm do virus như đốm trắng, đầu vàng và Taura – nguyên nhân gây thất mùa nghiêm trọng tại một số vùng nuôi - sản lượng tôm chân trắng năm 2009 đã đạt đến 540.000 tấn.
 
Một bệnh khác là bệnh vi bào tử trùng gây ra bởi ký sinh trùng Microsporidian mặc dù không có tỷ lệ chết nghiêm trọng nhưng tôm bị nhiễm bệnh thường có màu sắc cơ trắng đục đã gây ra những thiệt hại kinh tế đáng kể cho người nuôi. Tần suất phổ biến cao của bệnh do vi bào tử trùng đối với các quần thể tôm hoang dã đã được báo cáo phát hiện trên một số giống tôm he. Tôm bệnh được xác định bằng dấu hiệu biến đổi màu sắc cơ thịt sang dạng trắng sữa hoặc mờ đục. Tôm bệnh do vi bào tử trùng được biết đến với tên tiếng Anh là “cotton shrimp” (tôm bông gòn) hoặc “Milky shrimp” (tôm sữa) và tiếng Thái là “White back” (tôm lưng trắng) (Donyadol và cộng sự, 1985; Limsuwan, 1991; Flegel và cộng sự, 1992). Ở Thái Lan, vi bào tử trùng phân lập từ tôm sú (Black tiger shrimp – Penaeus monodon) và tôm bạc thẻ (banana shrimp – Penaeus merguiensis) bị bệnh bước đầu được xác định là Agmasoma (Thelohania) panaei (Flegel và cộng sự, 1992). Trên tôm chân trắng, bệnh do vi bào tử trùng được báo cáo từ những ao nuôi thâm canh ở khu vực ven biển vào năm 2006.
 
DẤU HIỆU LÂM SÀNG
 
Tôm được phát hiện nhiễm vi bào tử trùng microsporidian lần đầu vào giai đoạn 15 – 20 sau khi thả giống trong ao nuôi thịt. Tôm nhiễm bệnh có nhiều phần trên cơ thể chuyển sang màu trắng đục hay màu sữa. Khi tôm lớn dấu hiệu lâm sàng này càng dễ dàng quan sát hơn, đặc biệt ở phần lưng từ gan tụy đến phần giữa thân. Tuy nhiên, vài con cũng bị đục cơ ở phần đốt cuối cơ thể (Hình 01). Những đám, vệt lớn màu trắng đục trên những con tôm bị nhiễm bệnh cho thấy chúng thay thế cơ thịt cũng như những cơ quan khác như gan tụy, dạ dày và cơ quan bạch huyết (Lymphoid organ) (Hình 02)

Hình 01   Hình 02
Quan sát dưới kính hiển vi điện tử cho thấy mỗi túi bào tử chứa (sporophorous vesicle) chứa tám bào tử Thelohania hoặc Agmasoma (Hình 03) tương tự như vi bào tử trùng microsporidian trong báo cáo trước đây trên tôm sú của tác giả Limsuwan (1991), Flegel và cộng sự (1992). Quan sát dưới kính hiển vi điện tử cho thấy những khối lớn màu trắng chứa nhiều túi bào tử.

Hình 03

SỰ THAY ĐỔI MÔ BỆNH HỌC CỦA TÔM BỊ NHIỄM VI BÀO TỬ TRÙNG
 
Sự thay đổi mô bệnh học trên những con tôm bị bệnh từ hệ gan tụy và cơ thịt của nhóm tôm bị nhiễm bệnh sau 30 ngày thả nuôi cho thấy những đám màu trắng lớn của vi bào tử trùng microsporiadian dần dần thay thế hệ gan tụy và các cơ quan khác bao gồm dạ dày và phần cơ bụng trong khi nhóm những con tôm bị nhiễm vi bào tử trùng ở phần cơ cho thấy cơ bị thay thay thế dần bởi vi bào tử trùng. Ở giai đoạn 45, 60, 75, 90, 105 và 120 ngày tuổi thay đổi mô bệnh học cho thấy sự lây nhiễm vi bào tử trùng càng trở nên nghiêm trọng hơn khi chúng gần như thay thế hoàn toàn hệ gan tụy. Ống gan tụy của những con tôm bị nhiễm bệnh nặng bị giãn rộng và hoại tử.
 
SỰ LƯU HÀNH VÀ TÍNH NGHIÊM TRỌNG CỦA BỆNH
 
Sự lưu hành của bệnh vi bào tử trùng được quan sát trong 03 ao nuôi tôm thâm canh tôm thẻ chân trắng không xử lý nước để loại bỏ cá khi thả nuôi cho thấy tỷ lệ lưu hành bệnh cao nhất là 25 – 28% ở giai đoạn 60 ngày tuổi (Bảng 1). Sau đó, tỷ lệ bệnh giảm nhẹ ở giai đoạn 80 – 90 ngày tuổi và đột ngột suy giảm nhanh chóng ở giai đoạn 105 ngày tuổi. Khi tôm được thu hoạch, tỷ lệ nhiễm bệnh chỉ còn 3.0 – 4.2%. Sau khi bệnh xuất hiện lần đầu tiên sau thả giống 15 – 20 ngày, số lượng tôm nhiễm bệnh qan sát được ngày càng tăng cho đến 60 ngày tuổi có thể bởi vì ở tôm lớn thì vi bào tử trùng thay thế phần lớn cơ thịt và các cơ quan khác, do đó mà những mảng trắng đục sẽ dễ dàng quan sát hơn trên tôm còn nhỏ. Điều này rất đáng quan tâm vì tỷ lệ phần trăm tôm bệnh quan sát trong sàng ăn tăng trong suốt vụ nuôi. Tôm bị nhiễm vi bào tử trùng microsporodian nặng thường bị mềm vỏ và chậm lớn hơn những con tôm mạnh khỏe. Tỷ lệ phần trăm tôm bị nhiễm bệnh trong sàng ăn và trong chài kiểm tra cũng được so sánh, kết quả chỉ ra rõ ràng rằng tỷ lệ phát hiện tôm bệnh trong chài thắp hơn rất nhiều so với tỷ lê tôm bệnh trong sàng ăn. Điều này cho thấy những con tôm bị bệnh thì không thể cạnh tranh với những con tôm mạnh khỏe trong thời gian cho ăn, vì thế chúng thường tìm đến sàng ăn. Chính vì thế mà việc đánh giá tỷ lệ tôm bệnh bằng cách chài sẽ chính xác hơn là đánh giá qua sàng ăn.
Bảng 01 – Tỷ lệ nhiễm bào tử trùng microsporidian trên tôm chân trắng trong 120 ngày nuôi


Chú thích: 
 
A – Vi bào tử trùng nhiễm trên hệ gan tụy và cơ lưng bụng.
 
B – Vi bào tử trùng chỉ nhiễm trên cơ lưng bụng

Tỷ lệ lưu hành bệnh đat đến 28% ở ao 03 sau 60 ngày thả nuôi. Sau 60 ngày, những con tôm bị nhiễm bệnh nặng sẽ chết dần vì các cơ quan bao gồm hệ gan tụy, cơ quan bạch huyết, dạ dày và cơ lưng bụng bị hư tổn nghiêm trọng dẫn đến việc suy giảm chức năng sinh lý bình thường của tôm và bị ăn bởi những con tôm khỏe mạnh khác. Hơn nữa, sau 60 ngày thì không còn xuất hiện tôm mới bị nhiễm bệnh do đó tỷ lệ nhiễm bệnh không gia tăng khi chài kiểm tra và khi thu hoạch thì không phát hiện dấu hiệu lâm sàng ban đầu của tôm bị nhiễm bệnh mặc dù nước từ ao chứa được sử dụng để thay nước trong quá trình nuôi không được xử lý.
 
Kết quả nghiên cứu này chỉ ra rằng sự nhiễm vi bào tử trùng xảy ra sau giai đoạn lây nhiễm bào tử ở giai đoạn tôm giống (bào tử bị ăn bởi tôm giống). Điều kiện môi trường trong giai đoạn giống phù hợp hơn cho sự lây nhiễm vi bào tử trùng so với điều kiện môi trường sau 60 ngày thả nuôi hoặc cũng có thể tôm lớn có khả năng đề kháng tốt hơn với vi bào tử trùng.
 
ẢNH HƯỞNG CỦA BỆNH ĐẾN TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG
 
Báo cáo của Prasertsri và cộng sự cho thấy tôm thẻ chân trắng bị nhiễm vi bào tử trùng trên gan tụy và trên cơ bụng đều có trọng lượng thấp nhất một cách có ý nghĩa so với tôm chỉ bị nhiễm trên cơ bụng và tôm khỏe mạnh tại thời điểm lấy mẫu là giai đoạn 45 ngày sau khi thả giống và trong suốt thời gian 120 ngày nuôi. Tôm chỉ bị nhiễm vi bào tử trùng trên cơ bụng thì có trọng lượng thấp hơn một cách có ý nghĩa so với tôm mạnh khỏe. Tôm bị bệnh nặng, đặc biệt là với những con bị nhiễm trên cả hệ gan tụy và cơ thì bị mềm vỏ và chậm phát triển hơn so với những nhóm còn lại. Mặc khác những con tôm bị bệnh nặng rất yếu vì vi bào tử trùng đã xấm chiếm phần lớn hệ gan tụy và những cơ quan cần thiết cho sự sống quan trọng khác. Chính vì thế mà tôm sẽ giảm ăn, giảm trao đổi chất và chậm phát triển. Khi tôm vào giai đoạn tuổi 75 – 105 ngày, tỷ lệ lưu hành bệnh giảm rõ rệt trong chài kiểm tra vì chúng đã chết dần và bị ăn thịt bởi những con tôm khỏe mạnh. Sau khi thu hoạch vào ngày 120, sản lượng và tỷ lệ sống có liên quan đến tỷ lệ cảm nhiễm vi bào tử trùng. Ao 2 có sản lượng cao nhất vì tỷ lệ cảm nhiểm thấp nhất.
 
GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA BỆNH VI BÀO TỬ TRÙNG
 
Calcium hypochloride (chlorine) ở nồng độ 18 mg/l (ppm) dùng sử lý nước có hiệu quả đối với bào tử microsporidian. Tỷ lệ lưu hành bệnh khách biệt có ý nghĩa giữa ao được xứ lý nước (5,4%) so với ao không xử lý nước (25,2%). Tuy nhiên, một số bào tử vi bào tử trùng vẫn sống sót bất chấp tác dụng của chlorine (Limsuwan và cộng sự, 2008). Hàm lượng cao của cặn bã và vật chất hữu cơ có thể làm giảm độc lực của chlorine và qua đó cũng giảm tác dụng tiêu diệt các giai đoạn cảm nhiễm của vi bào tử trùng. pH cao cũng là nguyên nhân làm giảm độc lực của chlorine (Zillich, 1972; Floyd, 1979). Giải pháp ngăn ngừa bệnh này bao gồm cả việc loại bỏ những vật chủ trung gian mang mầm bệnh đặc biệt là các loài cá trong những vùng nuôi tôm đã bùng phát bệnh trước đó trước khi thả giống.
 
 
Bài viết được thực hiện bởi: GSTS Chalor Limsuwan – Trung tâm nghiên cứu thương mại thủy sản (ABRC) - Khoa thủy sản – Trường Đại học Kasesart – Thailand.
Nguồn: http://www.asianaquaculturenetwork.com

Nghiên cứu về đặc điểm sinh học của vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus cho thấy điều trị EMS/AHPND là không hiệu quả

Nghiên cứu về đặc điểm sinh học của vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus cho thấy điều trị EMS/AHPND là không hiệu quả

Những thông tin mới nhất và cực kỳ hữu ích về EMS/AHPND được cung cấp bởi Tiến sỹ Stephen Newman. Những thông tin này cho chúng ta một cái nhìn toàn diện về cơ chế xâm nhập, gây bệnh của vi khuẩn V. parahaemolyticus và giúp chúng ta giải thích tại sao các loại kháng sinh, chất khử trùng, các chất chiết xuất từ thảo dược và các phương pháp điều trị khác thường không có tác dụng hoặc hiệu quả đối với bệnh EMS/AHPND.

Vibrio parahaemolyticus bao gồm các chủng có độc tố có khả năng gây bệnh và các chủng không gây bệnh hoại tử gan tụy cấp tính AHPND. Dòng vi khuẩn gây bệnh AHPND phát triển trong dạ dày tôm, chúng hình thành nên các màng bao sinh học (biofilm) giúp bảo vệ chúng bởi tác dụng của các loại kháng sinh và các phương pháp điều trị khác. V. parahaemolyticus có khả năng chịu đựng với các độ mặn, pH, nhiệt độ và dễ dàng đeo bám trên các sinh vật phù du di chuyển theo dòng chảy.

Chỉ có một số lượng nhỏ các chủng vi khuẩn Vibrio gây bệnh trên tôm nuôi. Phần lớn nó là mầm bệnh cơ hội, tức là chúng chỉ phát triển và gây bệnh khi vật chủ bị stress hoặc yếu và không có khả năng chống lại chúng. Chỉ có một số rất ít mầm bệnh vi khuẩn Vibrio là tác nhân gây bệnh chính trên động vật khỏe mạnh. Vi khuẩn Vibrio có độc tính cao có thể giết chết tôm khi tiếp xúc với sự hiện diện rất ít của mầm bệnh hoặc khi tôm ăn phải một lượng nhỏ vi khuẩn.   

V. parahaemolyticus rất phổ biến trong môi trường ở các vùng cửa sông, và một số ít hiện diện trong môi trường nước ngọt. Hầu hết chúng đều không có khả năng gây bệnh và thường vô hại khi ăn phải, tuy nhiên, độc tố phát sinh từ vi khuẩn này thường được tìm thấy trong các loài cá tự nhiên và chúng là một trong những nguyên nhân gây ngộ độc khi ăn hải sản.

vpem.jpg
Cấu trúc vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus (Ảnh: Tokyo Institute of Technology)

Các loài Vibrio cũng có thể lây lan từ bố mẹ và hậu ấu trùng. Ví dụ như mầm bệnh gây nên AHPND hiện diện ở rất nhiều loài tôm và ở các giai đoạn phát triển khác nhau. Điều này có thể giải thích tại sao chúng có thể dễ dàng bùng phát, lây lan và vấn đề tiêu diệt hoặc kiểm soát mầm bệnh này không hề đơn giản.

Một màng bao sinh học là tập hợp của các sinh vật bám trên một bề mặt ví dụ như một mãnh vụn hữu cơ trên nền đáy ao tôm hoặc bề mặt đó là dạ dày tôm như trường hợp của vi khuẩn gây bệnh AHPND. Màng sinh học giúp bảo vệ các vi khuẩn chống lại kháng sinh và sự tấn công của các vi khuẩn cạnh tranh khác có trong ao nuôi.

Sự hình thành các màng bao sinh học bắt đầu khi vi khuẩn bám vào lớp kitin trên bề mặt dạ dày tôm. Sau đó, vi khuẩn tiết ra các chất hình thành nên một lớp "keo" giúp cho chúng gắn chặt vào bề mặt dạ dày tôm. Khi đã hình thành các màng bao sinh học chắc chắn trên dạ dày tôm, các vi khuẩn bắt đầu nhân lên, màng bao là hợp chất exopolysaccharides sẽ hình thành có tác dụng bảo vệ vi khuẩn với tác dụng của các loại kháng sinh, chất khử trùng, các chất chiết xuất từ thảo dược và các phương pháp điều trị khác, trong khi các hoạt động trao đổi chất ở tế bào của chúng vẫn diễn ra bình thường.

Do tính chất phức tạp của Giống vi khuẩn Vibrio, làm cho việc kiểm soát và khống chế mầm bệnh vi khuẩn gây bệnh EMS/AHPND trở nên rất phức tạp và khó khăn. Vi khuẩn V. parahaemolyticus sản sinh ra độc tố nhưng độc tố đó không là nguyên nhân trực tiếp gây tổn hại đến vật chủ. Hầu hết mầm bệnh vi khuẩn Vibrio sau khi xâm nhập vào vật chủ chúng sẽ nhanh chóng phát triển, gia tăng mật số để bảo vệ chính nó và cùng với sự phát triển của vi khuẩn là sức khỏe của vật chủ yếu đi và dẫn đến cái chết. Dòng vi khuẩn V. parahaemolyticus gây bệnh EMS/AHPND không tấn công và xâm nhập vào máu của tôm thông qua các vết thương hoặc các cơ chế xâm nhập khác. Điều này giải thích lý do tại sao thuốc kháng sinh không thể ngăn chặn các nhiễm trùng do EMS/AHPND gây nên. Nếu như kháng sinh không thể tiếp xúc với mầm bệnh ở mức độ đủ để ảnh hưởng đến nó thì kháng sinh sẽ không thể phát huy tác dụng. Mặc dù vẫn có nhiều trường hợp cần dùng đến kháng sinh trong việc điều trị bệnh trên tôm, dùng kháng sinh để trị bệnh EMS/AHPND là một ví dụ rất điển hình về việc sử dụng kháng sinh không hiệu quả. Ẩn mình trong cái vỏ bọc an toàn là màng bao sinh học (biofilm), vi khuẩn V. parahaemolyticus - tác nhân gây bệnh EMS/AHPND được bảo vệ trước các hóa chất về mặt lý thuyết là có thể tiêu diệt chúng. Điều này sẽ đặt ra một thách thức rất lớn đối với các cố gắng phát triển một phương pháp điều trị EMS/AHPND.

Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org
Source: The Global Aquaculture Advocate (The Global Magazine for Farmed Seafood).  Editor, Darryl Jory ( This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. ).  AHPN Inferences Based on Behavior of Vibrio Bacteria.  Stephen G. Newman.  Volume 16, Issue 6, Page 34, November/December 2013. Shrimp News International.

DANH MỤC HOÁ CHẤT, KHÁNG SINH CẤM SỬ DỤNG, HẠN CHẾ SỬ DỤNG TRONG SẢN XUẤT, KINH DOANH THỦY SẢN

Ngày 25 tháng 02 năm 2014 Bộ NN & PTNT đã ban hành Thông tư số: 08/VBHN-BNNPTNT về Danh mục hóa chất, kháng sinh cấm sử dụng, hạn chế sử dụng trong sản xuất , kinh doanh Thủy sản và trong Thú y. Thông tư này có hiệu lực sau 45 ngày kể từ ngày ký

Hỗ Trợ Trực Tuyến

Hotline:

0822 060 468

01234.686 768

Kinh Doanh:

Ms Vân: 01234.686 768

Ms Khải: 0908 697 782

Xuất nhập khẩu:

Ms Trinh: 01239 365 215

Mr Luân: 0908 094 077

Tư Vấn Thuốc Thú Y:

Ms Vân: 0911 68 67 68

 

Tư Vấn Thuốc Thủy Sản:

Ths. Vân: 0911 68 67 68

 

 

 

Thống Kê Truy Cập

147678
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tổng
133
88
1224
145641
2858
4496
147678

Công Ty TNHH SX TM Bảo Minh Châu
Địa Chỉ: 43/1 Bùi Quang Là, Phường 12, Quận Gò Vấp, TP.Hồ Chí Minh

Điện Thoại: 08 2206 0468-086 672 2229
Email: thuysanbmc@gmail.com